Trang nhất » Tin Tức » Trang Văn - Thơ

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP ĐỀ ĐỐC LÊ TRỰC

Thứ hai - 12/12/2016 14:23
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP ĐỀ ĐỐC LÊ TRỰC

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP ĐỀ ĐỐC LÊ TRỰC

- Sinh thời, cụ Lê Trực có tên là Lê Vợn, sinh tháng 6 năm 1828 tại Thôn Chân Linh, làng Thanh Thuỷ, Tổng Thuận Lệ, Phủ Quảng Trạch, nay là Thôn Bàu 1, xã Tiến Hoá, huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình. Cụ sinh ra trong một gia đình thuần nông và là người con thứ năm của gia đình.
- Lên 5 tuổi, cụ mồ côi cha. Mẹ bán cụ làm con nuôi cho ông Lê Sức và bà Nguyễn Thị Hân. Ông Sức với chức danh “Thủ Ngự” trấn ải cửa Sông Gianh ở làng Thuận Bài (xã Quảng Thuận – huyện Quảng Trạch) ngày nay.
- Lên 13 tuổi, ông Lê Sức đổi tên cụ Lê Vợn thành Lê Trực và cụ được học chữ, học võ cùng 3 người con trai của cụ Lê Sức.
- Năm 1846, cụ Lê Trực tròn 18 tuổi, với sự nhanh nhẹn thông minh cụ được ra học trường võ tại tỉnh Thanh Hoá.
- Năm 1847, Phủ Kinh Môn Thanh Hoá thất thủ, rơi vào tay giặc. Cụ Lê Trực đã thu phục tàn quân Phủ Kinh Môn cùng dân chúng chiến đấu gần một tuần và đã thu phục được Phủ Kinh Môn. Giải thưởng của Phủ cho cụ là 300 quan tiền và cụ ở lại với Phủ Kinh Môn Thanh Hoá.
- Năm 1849, Cụ về quê và đi lính đóng quân ở Đồng Hới - Quảng Bình. Cụ đã có thời cơ để luyện võ thao lược nhưng hai lần thi trường Ba đều hỏng (năm 1851 đến năm 1857)
- Năm 1858, Cụ đỗ cử nhân võ.
-   Năm 1859 cụ đỗ Tiến sĩ võ với chức sắc “Tạo Sĩ”, cùng lúc ở Tây Trúc (xã Tiến Hoá) có cụ Phạm Duy Đôn đỗ tiến sĩ Văn, với chức sắc “Hoàng Giáp”.
          Cụ Trực được vua ban chức “Sắc Tứ Đệ Tam Giáp Đồng Võ Tiến Sĩ Xuất Thân” áo mũ cân đai, một thẻ bài bằng gỗ có 4 chữ “ÂN TỨ VINH QUY”
-   Năm 1857 về sau Cụ giữ các chức:     Suất đội Ninh Bình, Chánh hiệp quản Huế, Chánh hiệp quản Thanh Hoá, Phó lãnh binh Hà Nội, Chánh lãnh binh Ninh Bình, Chánh lãnh binh Thanh Hoá, Chánh lãnh binh Lạng Sơn
-  Năm 1880, triều Huế điều cụ Trực về Huế để nhận công tác. Nhưng tổng đốc Hoàng Diệu xin Triều Huế để cụ Trực ở lại Hà Nội với chức danh “Đề đốc thành Hà Nội”
-   Năm 1883 Hà Nội thành thất thủ, Hoàng Diệu tự tử trong Hoàng cung, cụ Lê Trực về Huế tạ tội.Triều Huế xử chém đầu nhưng vua Tự Đức ân xá cho về quê.
-   Sau khi kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi ra Tân Sở và 13/9/1885hạ chiếu Cần Vương:
        Chiếu Cần Vương kể tội ác thực dân Pháp, nói lên nỗi thống khổ của người dân nô lệ, của người dân mất nước. Chiếu Cần Vương kêu gọi các sĩ phu, thân sĩ, văn sĩ yêu nước hãy theo vua Hàm Nghi chống Pháp.
        Chưa đầy 2 tháng, cụ Lê Trực đã có đội quân hơn 500 người với các tướng lĩnh dày dạn kinh nghiệm, giàu lòng yêu nước, yêu dân như Cao Thượng Chí (Thôn Xuân Mai, xã Mai Hoá), Nguyễn Phạm Tuân ở (Bố Trạch), Phan Tường ở Ba Đồn - Quảng Long, Chánh lãnh binh Lê Ảnh …. Đội quân chuẩn bị gậy gộc, giáo mác, tuốt trần sẵn sàng chờ lệnh đánh Pháp cùng với quân của các ông Đề Phú, Đề Én, Lãnh Ngưỡng, Lãnh Khuê, Đề Trích, Đoàn Chí Tuân, Mai Lượng …
        -  Năm 1886, quân Pháp hơn 60 tên đi bộ theo Quốc lộ 1A để lập Đồn bốt ở Đèo Ngang án ngự Bắc Nam, bị quân cụ Lê Trực đánh úp ngay tại Cầu Roòn, bẻ gãy âm mưu lấn chiếm của Pháp, giết chết 5 tên lính da đen.
           - Đêm mồng 9 rạng ngày 10 tháng 5 năm 1886, nghĩa quân cụ Lê Trực đột nhập Thành Đồng Hới, đốt trại lính Pháp, làm chủ toàn thành, cắt đứt giao thông liên lạc Bắc Nam gần 2 tháng. Đặc biệt tên tỉnh trưởng ác ôn khét tiếng nhất của miền Trung (Nguyễn Đình Dương) đã bị đền tội.
   Liên tiếp quân cụ đánh vào các đồn trại của Pháp trên đất Quảng Bình từ đồng bằng đến miền núi, chặn đánh bẻ gãy các cuộc hành quân của Pháp trên các phương tiện thuỷ, bộ.
        Đặc biệt tháng 6/1886, bọn Pháp tiến lên theo Sông Gianh (Linh Giang) để xây đồn bốt. Quân cụ Lê Trực đã nghênh chiến thu hút hơn 200 thuyền của Pháp và bọn phản động vào cuối thôn Chân Linh (Thôn Bàu 3 ngày nay). Cuộc chiến dùng chiến thuật độn thổ giáp lá cà, giết nhiều tên giặc.
        Các đồn bốt của giặc có lính Pháp ở liên tục bị quân cụ Lê Trực công kinh như Hướng Phương, Mỹ Hoà, Đan Xá … ngay cả đồn Đồng Hới cũng bị công kinh thêm mấy trận nữa. Quân cụ luôn có mặt trên Quốc lộ 1A cũng như các hướng, chặn đường giao thông của Pháp từ Nghệ An, Hà Tĩnh vào Đồng Hới.
               Quân cụ đã làm chủ được Bắc Quảng Bình, gây nhiều thiệt hại tổn thương cho thực dân Pháp. Thế nhưng cuối năm 1887, Pháp vẫn đặt được đồn tại Minh Cầm (Phong Hoá ngày nay) và Đồn Minh Cầm lại là mục tiêu để quân Cụ Lê Trực công kích.
         Cũng vào cuối năm 1887, có gián điệp dẫn đường, đại bản doanh của cụ tại Rú Cấm (Tiến Hoá) bị đánh úp. Cụ lui quân an toàn nhưng bị bắt đi hơn 10 người, trong đó có bà vợ cả, tướng Nguyễn Phạm Tuân và Phan Tường.
         Bị hao binh tổn tướng song Cụ Lê Trực cùng Tôn Thất Đàn (con trai Tôn Thất Thuyết) thu phục tàn quân các nơi, chiêu mộ thêm lính ở đầu Sông Nai, tiếp tục chiến đấu kiên cường buộc Pháp co cụm về vùng Đồng bằng.
·   Câu chuyện: Khi Đại uý Mouteaux đóng ở đồn Minh Cầm đã gửi thư dụ Lê trực ra hàng  vào Năm 1887, cụ Lê Trực viết thư trả lời :
         Vua Hàm Nghi là em út vua Kiến Phúc và là người được tôn lên trị vị. Hàm Nghi lên ngôi được Thái Hậu ưng chuẩn, triều đình thoả thuận, toàn dân hoanh nghênh nên Hàm Nghi mới xứng là vua đất Nam.
        Tôi là người chịu ơn của Tiên Đế, không lẽ lại thay đổi sự việc đã thành tựu. Lên làm vua là định mệnh của trời. Nếu tôi trở mặt thay lời thì tôi phải hỗ thẹn với rừng rú, sông suối, núi non, quê hương xứ sở và sau này khi tôi về thế giới bên kia tôi sẽ đắc tội với tiên Đế, tổ tiên. Vậy tôi không bao giờ bỏ vua Hàm Nghi.
         Nhà tôi bị Đại uý đốt cháy, vợ tôi bị Đại uý bắt bớ, tra khảo, giam cầm. Một số tướng sĩ của tôi bị Đại uý giết nên tôi phải rày đây, mai đó, lẫn khuất trong rừng.
         Đại uý biết đấy và chẳng nên ngần ngại gì nữa, bỏ đồn Minh Cầm, rút về Quảng Khê cho dân lành làm ăn yên ổn.
         Hết cách, Đại uý đã nói lên lời cuối cùng; Tôi tuyên bố quân Pháp sẽ đánh.
         - Cụ Lê Trực trả lời: Tôi sẵn sàng chờ….
        Cuối năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt, cuộc chiến của nghĩa quân cụ Lê Trực với Pháp vẫn tiếp tục gây cho Pháp nhiều tổn thất nặng nề, hoang mang, lo sợ cho chính quyền Pháp và triều đình bù nhìn, uy thế của Cần Vương Bắc Quảng Bình vẫn lên cao.
        Pháp đã dùng chiến lược “dùng người Việt trị người Việt” gây cảnh cốt nhục xương tàn, lột da xáo thịt, dân lành chết oan uổng. Hơn nữa, thế lực hai bên không cân sức, chưa có sự lãnh đạo của Đảng nên phong trào Cần Vương Quảng Bình đã thất bại.
        Đầu năm 1891, cụ Lê Trực đã phải giải hoà với Pháp để bảo vệ cuộc sống cho dân lành.Một số binh sĩ ra hà tĩnh tiếp tục chống Pháp. Phong trào Cân Vương Quảng Bình kết thúc.
-  Và một chiều ngày 04 tháng 6 năm Đinh Mẹo (1918), cụ Lê Trực để lại cho con cháu quê hương xứ sở, bản làng một niềm thương xót vô tận. Cụ ra đi và đi mãi không bao giờ trở lại.
        Cụ Lê Trực hưởng thọ 90 tuổi.  Cụ có hai người vợ; vợ cả Lê Thị Tợi, vợ kế Lê Thị Nhượng.
       Thi hài cụ và hai người vợ được an táng tại quê hương ngày nay tại Thôn Bàu 1, xã Tiến Hoá, huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình. Hiện nay tên núi, tên sông còn ghi dấu ấn cuộc đời binh đao của nghĩa quân Bắc Quảng Bình với tướng lĩnh là cụ Lê Trực, như: Đồng Thổng, Bàu Phượng Hoàng (xòm Bàu Tiến Hoá), Mái Lò Rèn (Tân Thuỷ, Tiến Hoá), khe Đá Mài, Hố Voi, Bãi Tập, Hòn Bồ Muối, Khe Cửa Đồn, Cồn Đánh Mõ, Núi Voi Dựa …
Ngày 21 - 6 - 1993, thay mặt Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin, thứ trưởng Lưu Trần Tiêu đã kí công nhận di tích lịch sử lăng mộ và nhà thờ đề đốc Lê Trực. Bộ Văn hoá Thông tin đã cấp “Bằng công nhận di tích Lịch sử  -  Văn hoá” .
Để ghi nhớ công ơn của cụ, tại xã Tiến Hoá có 2 ngôi trường mang tên vị tướng tài: Trường tiểu học Lê Trực và Trường THPT Lê Trực. Vào ngày 30 hàng tháng, học sinh 2 trường lại đến thắp hương tưởng niệm người anh hùng của quê hương trong những ngày đầu chống thực dân Pháp xâm lược. Lê Trực xứng đáng là một danh tướng xuất sắc của phong trào Cần Vương, là niềm tự hào của quân dân Quảng Bình và cả nước.


Tác giả bài viết: Phạm Thị Lệ Hiền

Nguồn tin: Sưu tầm

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn